luận văn trí tuệ nhân tạo

Trí tuệ nhân tạo ngày nay đang tồn tại hiện hữu ở mọi lĩnh vực đời sống, thực tế đó đòi hỏi pháp luật sở hữu trí tuệ, trong đó có pháp luật quyền tác giả phải có những điều chỉnh phù hợp để khai thác tối đa những lợi ích mà trí tuệ nhân tạo mang lại cho xã hội. >> Pháp luật "hở" khi trí tuệ nhân tạo (AI) tác động đến sự hình thành tài sản trí tuệ Đề Tài Tiểu Luận Luật Quyền Sở Hữu Trí Tuệ : Những vấn đề pháp lý về tên miền và mối liên hệ với quyền sở hữu trí tuệ. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong pháp luật sở hữu trí tuệ - nghiên cứu so sánh với pháp luật cạnh tranh. Tăng cường các hoạt động tạo ra tài sản trí tuệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực về đ ổ i mới sáng tạo và sở hữu Thông báo 405/TB-VPCP của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc tổng kết công Ngày 12/12, Hệ thống Y tế Vinmec, Bệnh viện Phổi TƯ và VinBrain ký biên bản ghi nhớ hợp tác và triển khai ứng dụng "AI Trợ lý bác sĩ trong chẩn đoán hình ảnh". Đây là phần mềm ứng dụng trí tuệ nhân tạo đầu tiên tại Việt Nam, kết hợp với công nghệ thị giác máy tính và công nghệ xử lý ngôn ngữ tự từ một sự lựa chọn đúng và khởi đầu một hướng đi đúng, với ý chí, quyết tâm và sự phấn đấu không mệt mỏi cho con đường mình đã chọn, nguyễn tất thành - nguyễn ái quốc - hồ chí minh ra đi từ bến cảng sài gòn năm xưa đã tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn và lãnh đạo nhân dân việt nam đi đến độc lập và thống nhất, tự do và hạnh phúc, ngày một … Trong bài tham luận của mình với tiêu đề Tiềm năng ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong chuyên ngành lao và bệnh phổi", PGS. TS. BS Nguyễn Viết Nhung, Giám đốc Bệnh viện Phổi Trung ương, Chủ tịch Hội Phổi Việt Nam, đồng thời là Chủ nhiệm chương trình chống lao quốc gia, là Vay Tiền Online Từ 18 Tuổi. Liên hệ Cơ quan chỉ đạo Bộ Khoa học và Công nghệ 113 Trần Duy Hưng, Trung Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội Đơn vị thực hiện Báo Điện tử VnExpress Tầng 4 - Tòa nhà FPT - số 17 Duy Tân, Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội Sở hữu trí tuệ là lĩnh vực nhạy cảm và đáng được quan tâm nhiều hơn, quyền sở hữu trí tuệ là một trong những quyền đảm bảo công sức của một cá nhân hay một tập thể về sản phẩm hay một phát minh nào đó. Luận văn về sở hữu trí tuệ là những bài viết nhằm phát huy những giá trị nội dung của sở hữu trí tuệ, khám phá những đặc điểm của sở hữu trí tuệ để tìm ra phương pháp giải quyết phù hợp nhất. Bài viết này sẽ bao gồm những đề tài luận văn về sở hữu trí tuệ hay nhất để giúp các bạn trong việc tìm hiểu và thực hiện luận văn. luận văn về sở hữu trí tuệ niệm về sở hữu trí tuệ Sở hữu trí tuệ là tài sản trí tuệ- những sản phẩm sáng tạo của bộ óc con người. Đó là các sản phẩm văn học, âm nhạc, phát minh khoa học, sáng chế, giải pháp hữu ích,… Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền được pháp luật quy định để đảm bảo quyền sử dụng sản phẩm của nhà phát minh, của tác giả trong các lĩnh vực của họ. Quyền sở hữu trí tuệ được pháp luật nhà nước bảo hộ, tránh những trường hợp giả mạo quyền sở hữu trí tuệ hoặc ăn cắp bản quyền của người khác. Những hành động đó cần phải phê phán và nghiêm trị để tạo ra môi trường sở hữu tí tuệ an toàn. Những đề tài luận văn về sở hữu trí tuệ sau đây sẽ cung cấp các nội dung có liên quan trong phạm vi nhiều lĩnh vực để mọi người cùng tham khảo. Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực Âm Nhạc Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí thực tiễn và giải pháp hoàn thiện Quản lý quyền sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực xuất bản Tìm hiểu pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam trong vấn đề bảo hộ tác phẩm văn học nghệ thuật dân gian Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Thực tiễn quyền sao chép tác phẩm theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện nay Nguyên tắc cân bằng lợi ích của chủ sở hữu quyền tác giả và lợi ích của cộng đồng trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Nghiên cứu các vấn đề pháp lý về bảo hộ quyền tác giả trong các cơ sở giáo dục Đại học Việt Nam Hạn chế quyền tác giả theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Tìm hiểu quyền tác giả đối với tác phẩm phát sinh trong pháp luật sở hữu trí tuệ Giải pháp ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh Tìm hiểu các quyền liên quan đến quyền tác giả trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Giải pháp nâng cao hiệu quả các quy định pháp luật về tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả tại Việt Nam Một số số quy định pháp luật sở hữu trí tuệ về tác phẩm kiến trúc giải pháp xử lý các hành vi xâm phạm quyền tác giả theo quy định của luật sở hữu trí tuệ mối liên hệ mật thiết giữa hợp đồng chuyển giao quyền tác giả với luật pháp về quyền sở hữu trí tuệ Giải các công bằng trong vấn đề bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền tác giả theo quy định của pháp luật mối liên hệ giữa bảo hộ sáng chế và vấn đề sức khỏe cộng đồng theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ thực trạng khả năng phân biệt của nhãn hiệu trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện nay Mối liên hệ giữa kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu ba chiều trong pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam Một số quy định về tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng theo pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam luận văn về sở hữu trí tuệ sự giao thoa giữa bảo hộ sáng chế và bí mật kinh doanh trong pháp luật sở hữu trí tuệ nghiên cứu mối liên hệ Kệ vợ về tên miền với quyền sở hữu trí tuệ giải pháp xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến nhãn hiệu trong pháp luật sở hữu trí tuệ đề xuất các biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu Tìm hiểu các vấn đề lý luận và thực tiễn về chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp so sánh hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ và hợp đồng dân sự trong pháp luật dân sự Việt Nam đề xuất nâng cao nghĩa vụ sử dụng sáng chế nhãn hiệu theo quy định pháp luật sở hữu trí tuệ nghiên cứu quyền sở hữu trí tuệ trong hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP sự tác động từ hiệp định TPP đối với pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam luận văn về sở hữu trí tuệ Quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động nhượng quyền thương mại những quy định của pháp luật Việt Nam về bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền sở hữu trí tuệ công nghiệp những nguyên tắc xác định thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ một số các biện pháp bảo vệ quyền đối với nhãn hiệu theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ Tình hình hoạt động bắt buộc chuyển giao quyền sử dụng đối với sáng chế theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ thực trạng và giải pháp hoàn thiện bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại các doanh nghiệp thực trạng thể chất đối tượng quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật Việt Nam và giải pháp hoàn thiện luận văn về sở hữu trí tuệ kệ vi phạm nhãn hiệu trên môi trường kỹ thuật số tại Việt Nam những vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng chuyển giao quyền đối với giống cây trồng theo quy định của pháp luật Việt Nam Các nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo sản phẩm trong các doanh nghiệp Khoa học và Công nghệ Việt Nam phân tích các chính sách về quyền sở hữu trí tuệ đối với các tác phẩm văn học của các tác giả thời Kỳ đương đại trong xã hội Việt Nam Nam giải pháp xử lý các hạn chế trong công tác thực hiện pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm âm nhạc nghiên cứu vai trò và tầm quan trọng của công tác bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập quốc tế một số hạn chế trong công tác thực thi các chính sách của nhà nước về quyền sở hữu trí tuệ trong đời sống xã hội I Phân tích mối quan hệ giữa quyền sở hữu trí tuệ với các quy phạm đạo đức trong đời sống xã hội thi tìm hiểu những bất cập và hạn chế trong công tác đầu tư và phát triển đối với các sản phẩm trí tuệ của học sinh sinh viên giải pháp nhằm thúc đẩy và phát triển sự sáng tạo khoa học công nghệ của các bạn học sinh Trung học phổ thông xử lý những hạn chế trong tư duy phát triển các sản phẩm trí tuệ hệ của học sinh sinh viên Các yếu tố môi trường đã tác động với việc hình thành xây dựng và phát triển một số công trình nghiên cứu khoa học giải pháp giải quyết các vấn đề của hoạt động khiếu nại tố cáo liên quan tới quyền tác giả đối với các tác phẩm điện ảnh vấn đề giải quyết quyền sở hữu trí tuệ và các công trình kiến trúc phương tây có mặt trên lãnh thổ Việt Nam triển khai áp dụng các chế tài pháp luật về việc xử phạt các hành vi vi phạm đến những quyền tác giả về sở hữu trí tuệ thực trạng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh đối với các sản phẩm khoa học công nghệ trong đời sống xã hội thực trạng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được với lý khi gặp truyền thống xử lý ý hành vi làm hàng giả mạo về sở hữu trí tuệ theo luật sở hữu trí tuệ Giải pháp nâng cao áp dụng pháp luật về góp vốn bằng giá trị quyền sở hữu trí tuệ Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sáng chế liên quan đến thực phẩm tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Luận văn về sở hữu trí tuệ quản lý quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động thương mại điện tử Bảo hộ quyền tác giả trong lĩnh vực báo chí và kiến nghị giải pháp hoàn thiện Giải pháp phòng chống các tội xâm phạm sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay hoàn thiện luật sở hữu trí tuệ nhằm thúc đẩy thị trường chuyển quyền sở hữu trí tuệ Pháp luật về bảo hộ nhãn hiệu nhằm hạn chế cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ Tìm hiểu sở hữu trí tuệ Việt Nam dưới góc nhìn tham chiếu EVFTA Quản lý sở hữu trí tuệ trong ngành Văn hóa và du lịch xây dựng ý thức người dân Hoạt động sở hữu trí tuệ làm tăng sức cạnh tranh và giá trị sản phẩm giải pháp nâng cao khuyến khích data hoạt động đăng ký xác lập quyền sở hữu trí tuệ Mối liên hệ giữa quyền tác giả có yếu tố nước ngoài và pháp luật sở hữu trí tuệ tại Việt Nam Luận văn về sở hữu trí tuệ Nâng cao hoạt động sở hữu trí tuệ về trí tuệ nhân tạo Giải pháp bảo đảm quyền sở hữu tí tuệ của người phát minh Vai trò của toà án nhân dân trong xử lý vấn đề quyền sở hữu trí tuệ III. Lời kết Kết thúc bài viết luận văn về sở hữu trí tuệ hy vọng rằng các bạn đã có được những thông tin cũng như những nội dung thường xuyên xuất hiện trong luận văn về quyền sở hữu trí tuệ. Nếu các bạn cần cung cấp thêm các đề tài luận văn hãy liên hệ với chúng tôi. ===> DỊCH VỤ LÀM LUẬN VĂN TRỌN GÓI BAO CHỈNH SỬA BÀI HOTLINE 0936885877 BẠN QUÉT MÃ BÊN DƯỚI ĐỂ LIÊN HỆ ZALO Dịch vụ Luận Văn Tri Thức Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website Post Views 160 TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN -- NGUYỄN THỊ VÂN ANH NGÔN NGỮ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ HÀ NỘI, 2019 TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2 KHOA NGỮ VĂN -- NGUYỄN THỊ VÂN ANH NGÔN NGỮ CỦA TRÍ TUỆ NHÂN TẠO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Chuyên ngành Ngôn ngữ Ngƣời hƣớng dẫn khoa học TS. NGUYỄN VĂN THẠO HÀ NỘI, 2019 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám hiệu trường Đại học sư phạm Hà Nội 2, các thầy cô trong khoa Ngữ văn, những người đã trang bị cho em những kiến thức đầu tiên, giúp em định hướng đúng đắn trong học tập, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức. Đặc biệt em xin gửi lời cảm ơn, lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Văn Thạo, đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện khóa luận tốt nghiệp này. Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2019 Sinh viên Nguyễn Thị Vân Anh LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và không trùng với bất kì công trình nghiên cứu nào đã từng được công bố trước đó. Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình! Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2019 Sinh viên Nguyễn Thị Vân Anh MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1 2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 1 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................ 5 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................. 5 5. Phương pháp nghiên cứu............................................................................... 6 6. Đóng góp của khóa luận................................................................................ 6 7. Bố cục của khóa luận .................................................................................... 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT................................................................ 7 Cơ sở lí thuyết ngôn ngữ học ..................................................................... 7 Cơ sở ngữ âm học.................................................................................... 7 Cơ sở lí thuyết về nghĩa trong ngôn ngữ................................................. 7 Cơ sở ngữ dụng học ................................................................................ 7 Trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ nhân tạo....................................................... 8 Khái quát về trí tuệ nhân tạo ................................................................... 8 Ngôn ngữ nhân tạo .................................................................................. 9 Tiểu kết chương 1............................................................................................ 10 CHƢƠNG 2. NHỮNG THUẬN LỢI VÀ RÀO CẢN ĐỐI VỚI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ .............................. 11 Những thuận lợi của trí tuệ nhân tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ ........ 11 Thuận lợi về mặt cấu tạo ....................................................................... 11 Thuận lợi trong lĩnh vực ngôn ngữ ...................................................... 11 Thuận lợi về mặt ngữ âm ................................................................... 11 Thuận lợi về mặt ngữ nghĩa ............................................................... 12 Những rào cản đối với trí tuệ nhân tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ ..... 13 Những rào cản về mặt ngữ âm .............................................................. 13 Hiện tượng đồng âm........................................................................... 13 Ngữ điệu ............................................................................................. 15 Những rào cản về mặt từ vựng .............................................................. 16 Hoán dụ, ẩn dụ ................................................................................... 16 Trường nghĩa ...................................................................................... 18 Thành ngữ, tục ngữ ............................................................................ 19 Điển tích, điển cố ............................................................................... 22 Phương ngữ ........................................................................................ 27 Tiếng lóng .......................................................................................... 29 Những rào cản về mặt ngữ dụng ........................................................... 32 Nghĩa hàm ẩn ..................................................................................... 32 Ngữ cảnh ............................................................................................ 35 Tiền giả định ...................................................................................... 37 Một vài dự báo và để xuất ........................................................................ 40 Một vài dự báo ...................................................................................... 40 Một vài đề xuất...................................................................................... 41 Tiểu kết chương 2............................................................................................ 42 KẾT LUẬN .................................................................................................... 43 TÀI LIỆU THAM KHẢO MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Trí tuệ nhân tạo là một phạm trù lĩnh vực được rất nhiều các nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu và nó là một yếu tố quan trọng góp phần phát triển ngành công nghiệp nói riêng, phát triển thế giới nói chung. Trí tuệ nhân tạo là một ngành thuộc lĩnh vực khoa học máy tính, là trí thông minh giúp máy móc có thể tự động hóa các hành vi như con người như biết suy nghĩ và lập luận để giải quyết vấn đề, biết giao tiếp do hiểu ngôn ngữ, tiếng nói, biết học và tự thích nghi,… Có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo và đạt được nhiều thành tựu. Cuối năm 2016, hãng Apple đã thông báo sẽ công khai các nghiên cứu của hãng về máy học và trí thông minh nhân tạo tựa đề là "Học từ những hình ảnh mô phỏng và không có kiểm soát thông qua huấn luyện đối nghịch". Nội dung chủ yếu của tài liệu này là tập trung vào những nỗ lực của Apple trong lĩnh vực nhận diện hình ảnh thông minh.[36] Ở lĩnh vực y học, một nhóm nghiên cứu tại Đại học Glasgow đã phát triển một “nhà hóa học robot” Robot chemist sử dụng trí thông minh nhân tạo để tìm ra loại thuốc mới trong y học.[37] Hay ở lĩnh vực nghệ thuật, tại Trung Quốc, một chú robot đã rất thành công trong việc vẽ tranh theo phong cách cổ xưa…[38] Tuy nhiên, ở Việt Nam cũng như trên thế giới chưa có một nhà nghiên cứu nào nghiên cứu chuyên sâu về sự ảnh hưởng của ngôn ngữ đối với sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Vì vậy, chúng tôi chọn ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo làm đề tài nghiên cứu của khóa luận. 2. Lịch sử vấn đề Cách mạng công nghiệp là giai đoạn biến đổi phát triển về chất trong lĩnh vực kĩ thuật của sản suất công nghiệp, diễn ra trong điều kiện chuyển từ công trường xưởng thủ công tư bản chủ nghĩa sang hệ thống công xưởng, nhà máy tư bản chủ nghĩa nhờ áp dụng những sáng chế mới trong công nghệ. Trên thế giới đã xảy ra bốn cuộc cách mạng công nghiệp lớn, góp phần làm thay đổi nền kinh tế toàn cầu và thay đổi cuộc sống của nhân loại. Cuộc cách mạng công nghiệp thứ nhất diễn ra khoảng ở nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa sản 1 xuất. Cuộc cách mạng lần thứ hai được khởi xướng từ cuối thế kỉ XIX kéo dài đến đầu thế kỉ XX, nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc cách mạng lần thứ ba diễn ra vào những năm 1970, sử dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa sản xuất. Còn cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư xuất hiện vào khoảng nửa cuối thế kỉ XIX đến nửa đầu thế kỉ XXI [11]. Theo Gartner công ty tư vấn và nghiên cứu toàn cầu cung cấp thông tin chi tiết, tư vấn và công cụ cho các nhà lãnh đạo về công nghệ thông tin, tài chính, nhân sự, dịch vụ khách hàng và hỗ trợ, chức năng pháp lý và tuân thủ, tiếp thị, bán hàng và chuỗi cung ứng thế giới, Cách mạng Công nghiệp hay Cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư xuất phát từ khái niệm "Industrie trong một báo cáo của chính phủ Đức năm 2013. "Industrie kết nối các hệ thống nhúng và cơ sở sản xuất thông minh để tạo ra sự hội tụ kỹ thuật số giữa Công nghiệp, Kinh doanh, chức năng và quy trình bên trong [12]. Cách mạng Công nghiệp diễn ra trên 3 lĩnh vực chính gồm Công nghệ sinh học, Kỹ thuật số và Vật lý. Yếu tố cốt lõi của cách mạng công nghiệp là trí tuệ nhân tạo AI, vạn vật kết nối - Internet of Things IoT và dữ liệu lớn Big Data. Trí tuệ nhân tạo có thể được định nghĩa như một ngành của khoa học máy tính liên quan đến việc tự động hóa các hành vi thông minh. Trí tuệ nhân tạo là một bộ phận của khoa học máy tính và do đó nó phải được đặt trên những nguyên lý lý thuyết vững chắc, có khả năng ứng dụng được của lĩnh vực này. Nói một cách khác, trí tuệ nhân tạo là trí thông minh của máy móc được tạo bởi chính con người. Trí tuệ này có thể tư duy, suy nghĩ, học hỏi,... như trí tuệ con người. Xử lý dữ liệu ở mức rộng lớn hơn, quy mô hơn, hệ thống, khoa học và nhanh hơn so với con người [41]. Có rất nhiều các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo và đạt được nhiều thành tựu. Thuật ngữ trí tuệ nhân tạo đã được manh nha xuất hiện từ năm 1956 khi công bố chương trình dẫn xuất kết luận trong hệ hình thức. Đến khoảng năm 1960 khi McCathy ở MIT Massachussets Institute of Technology đưa ra ngôn ngữ lập trình đầu tiên dùng cho trí tuệ nhân tạo LISP list processing, các nghiên cứu về TTNT mới bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Đây có thể xem là một mốc quan trọng trong quá trình xây dựng các máy 2 có khả năng suy nghĩ. Các chương trình chơi cờ và các chương trình chứng minh định lý toán học đầu tiên cũng được công bố trong khoảng thời gian này. [20] Cuối những năm 70, một số nghiên cứu cơ bản trong các lĩnh vực như xử lý ngôn ngữ tự nhiên, biểu diễn tri thức, lý thuyết giải quyết vấn đề đã đem lại diện mạo mới cho TTNT. Đến khoảng những năm 90 trên thị trường đã có một số sản phẩm dân dụng áp dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo để nhận dạng hình ảnh, tiếng nói như máy giặt, máy ảnh… [20] Hiện nay, trí tuệ nhân tạo được sử dụng một cách rộng rãi ở khắp các hãng như Facebook, Amazon, IBM, Microsoft và một số hãng khác … Thậm chí bản thân google cũng là một phần mền tìm kiếm thông minh sử dụng trí tuệ nhân tạo. Các nhà khoa học đang muốn phát triển chúng để trở nên thông minh hơn, có thể thay thế con người làm mọi việc. Chúng đã có thể chơi cờ, khám bệnh, phát hiện ra người đồng giới, giúp con người làm rất nhiều việc, thậm chí chúng còn làm tốt hơn con người [42,34,23]. Năm 1997, trong chương trình chơi cờ vua trên máy, máy tính Deep Blue đã đánh bại kiện tướng Kasparov, nhà vô địch cờ vua thế giới không thể đánh bại từ 1985 đến 1993 [24]. Trong lĩnh vực y học, hệ chuyên gia MYCIN 1984, Standford không thua kém chuyên gia người trong việc chuẩn đoán bệnh. Ở lĩnh vực quân sự, năm 1991 trong chiến tranh vùng Vịnh, kỹ thuật trí tuệ nhân tạo được dùng để lập lịch và lên kế hoạch hậu cần [5, tr 25]. Đến những năm gần đây, trí tuệ nhân tạo đã có nhiều bước tiến mới. Tháng 10/2017 trên một trang báo điện tử đã đăng tin trong chương trình chơi cờ vây, AlphaGo Zero của DeepMind, công ty trí tuệ nhân tạo thuộc Google, đúc kết hàng nghìn năm kiến thức của con người về trò chơi và tự phát minh ra những nước đi mới chỉ trong ba ngày và đánh bại con người [42]. Cũng cuối năm 2017, khi cho trí tuệ nhân tạo thử vẽ tranh, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nếu là người bình thường sẽ không thể phân biệt được sự khác nhau giữa các tác phẩm được tạo nên bởi trí tuệ nhân tạo với các tác phẩm được tạo ra bởi con người [10]. Gầy đây nhất, ngày 11/4/2018 NASA chế tạo đàn ong robot khám phá sao Hỏa. Những con ong robot nhỏ bằng ong nghệ sẽ lập bản đồ, lấy mẫu vật nghiên cứu và tìm kiếm dấu hiệu của sự sống trên hành tinh đỏ [22]. Trước đó hai ngày, 9/4/2018 Trung Quốc đã trình làng hai mẫu robot cứu hộ 3 mới. Hai robot được thiết kế để hoạt động trong điều kiện môi trường khắc nghiệt, có thể tự động dò đường, tránh vật cản và mang vật nặng 300 kg [43]. Gần đây nhất, ngày 30/4/2018 trên trang báo mới đã đưa tin Nga đã cho ra mắt loại robot chiến đấu mang tên Uran-9. Uran-9 được trang bị hệ thống hỏa lực rất mạnh mẽ là pháo tự động được gắn cùng súng máy đồng trục và các tên lửa điều khiển chống tăng. Uran-9 được gọi là “sứ giả tương lai” và đặc biệt Uran-9 có khả năng tự quyết định và tham chiến mà không cần đến sự điều khiển của con người [31]. Đối với lĩnh vực ngôn ngữ, trí tuệ nhân tạo, sự kiện quan trọng trong sự phát triển của khoa học trí tuệ nhân tạo là sự ra đời của ngôn ngữ PROLOG, do Alain Calmerauer đưa ra năm 1972. Năm 1981, dự án của Nhật Bản xây dựng các máy tính thế hệ thứ V lấy ngôn ngữ PROLOG như là ngôn ngữ cơ sở đã làm thay đổi khá nhiều tình hình phát triển trí tuệ nhân tạo ở Mỹ cũng như châu Âu [20]. Một số trang báo điện tử như các nhà nghiên cứu Facebook đã phát hiện ra các phần từ trí tuệ nhân tạo đã giao tiếp với nhau bằng một thứ ngôn ngữ hoàn toàn mới mà con người không thể hiểu được [40,16,17]. Ta có thể thấy được chúng dần đã có sự học hỏi và sáng tạo ra một thứ ngôn ngữ mới để chúng tự giao tiếp với nhau. Khi chúng ta đọc đoạn hội thoại ấy, ta không thấy nghĩa, nhưng xét ở một phương diện nào đấy, theo tôi đối với chúng thì đây là một đoạn hội thoại có nghĩa. Như vậy, ngoài việc trí tuệ nhân tạo ưu việt hơn con người về khả năng lập trình, tư duy mà giờ đây chúng đã bắt đầu có những tư duy sáng tạo riêng về mặt ngôn ngữ. Liệu sự phát triển này của trí tuệ nhân tạo có thể khiến chúng dần thay thế con người hay chúng sẽ giúp ích con người. Trên thế giới đã có một robot đầu tiên được cấp quyền công dân là Sophia, đây là một trí tuệ nhân tạo có khả năng giao tiếp với con người một cách thuần thục, nghe nói trôi chảy và khôn ngoan như con người. Cô có khả năng học hỏi và làm theo con người một cách nhanh chóng [36]. Thậm chí, trong bài phỏng vấn Sophia là người áp đảo cuộc trò chuyện, cô khẳng định mình là “con người thật hơn con người”. Cô có đủ cảm xúc vui, buồn, giận dữ… và đặc biệt Sophia còn là một robot biết tự nhận thức. Sophia tuyên bố 4 rằng cô “ muốn dùng trí tuệ nhân tạo của mình mang đến cho con người cuộc sống tiện nghi hơn. Ví dụ như bằng thiết kế nhà thông minh hơn, xây dựng thành phố tương lai thông minh hơn [36]. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu, tìm hiểu về ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo giúp cho ta có một cái nhìn khác về trí tuệ nhân tạo. Từ góc độ ngôn ngữ chúng ta có thể dự đoán được khả năng phát triển của trí tuệ nhân tạo so với con người. Đặc biệt, khi nghiên cứu ta có thể giải quyết được sự nghi ngại của con người về dự đoán trí tuệ nhân tạo có thể thay thế cho con người, thậm chí chúng biến con người thành nô lệ, tay sai cho chúng. Đó là khẳng định robot có thể phát triển hơn con người về nhiều mặt nhưng về ngôn ngữ thì chúng khó có thể vượt qua con người. Ngôn ngữ của con người sử dụng là một thứ ngôn ngữ linh hoạt, phong phú. Còn trí tuệ nhân tạo dù tài giỏi nhưng nó là một loại máy móc nên nó không thể linh hoạt giống như con người. Đề tài sẽ là cơ sở cho các công trình nghiên cứu khác liên quan đến trí tuệ nhân tạo hoặc ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo. Từ đó, giúp người đọc trau dồi thêm sự hiểu biết, tri thức về ngôn ngữ cũng như về trí tuệ nhân tạo. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu một số vấn đề lý thuyết cơ bản về ngôn ngữ và về trí tuệ nhân tạo. - Nhận diện, thống kê, phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến ngôn ngữ của trí tuệ nhân tạo. 4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là ngôn ngữ của các loại máy móc nói chung có khả năng lập trình ngôn ngữ. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là các các loại máy móc hiện đại có khả năng sử dụng ngôn ngữ. Ngoài ra, khóa luận còn nghiên cứu các nguồn tài liệu từ internet. 5 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của khóa luận là - Phương pháp phân tích - tổng hợp đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu, xuyên suốt trong quá trình nghiên cứu vì phải phân tích, chia nhỏ các vấn đề ra đề làm sáng tỏ, sau đó tổng hợp lại các kết quả nghiên cứu để có cái nhìn tổng thể. - Phương pháp phân tích diễn ngôn đặt lập luận trong mối quan hệ với ngữ cảnh sử dụng để nhận diện rõ các thành phần lập luận, từ đó xác định các kết tử lập luận đồng hướng, tính chất và chức năng của chúng. - Phương pháp miêu tả đưa ra những phân tích, lí giải và minh họa nhằm làm sáng tỏ các thuận lợi và khó khăn của ngôn ngữ đối với trí tuệ nhân tạo trong các dạng lập luận khác nhau. 6. Đóng góp của khóa luận Giới thiệu những yếu tố thuận lợi và khó khăn của ngôn ngữ đối với trí tuệ nhân tạo. Từ đó, đưa ra ý kiến về nhận định trí tuệ nhân tạo sẽ thay thế con người. Khóa luận có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho việc nghiên cứu về sự phát triển của trí tuệ nhân tạo. Kết quả nghiên cứu ít nhiều cung cấp những gợi dẫn hữu ích trong việc nghiên cứu về trí tuệ nhân tạo. 7. Bố cục của khóa luận Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, khóa luận gồm 2 chương, như sau Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết Chương 2 Những thuận lợi và rào cản đối với trí tuệ nhân tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT Cơ sở lí thuyết ngôn ngữ học Cơ sở ngữ âm học Ngữ âm học là khoa học nghiên cứu âm thanh ngôn ngữ loài người. Nhiệm vụ của ngữ âm học là nghiên cứu các âm thanh trong tất cả các trạng thái và chức năng của chúng, đồng thời nghiên cứu mối quan hệ giữ hình thức âm thanh và chữ viết của chúng. Ngữ âm học có một vị trí đặc biệt trong nghành học của ngôn ngữ học[13]. Vì ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, nên ngữ âm - vỏ vật chất, mặt biểu hiện của ngôn ngữ đều khác nhau. Mỗi ngôn ngữ đều có hình thức diễn đạt bằng âm thanh của nó và chúng luôn đi kèm với nhau. Mỗi từ đều có cấu tạo bởi “cái biểu đạt” âm thanh và “cái được biểu đạt” nghĩa. Khi chúng ta thay đổi cách thức cấu tạo của một từ thì nghĩa của từ đó cũng sẽ bị biến đổi. Cơ sở lí thuyết về nghĩa trong ngôn ngữ Lý thuyết về nghĩa trong ngôn ngữ được chia làm hai loại chính là nghĩa của từ và nghĩa ngữ pháp. Nghĩa của từ hay còn gọi là ý nghĩa từ vựng là những đơn vị ngữ nghĩa tạo nội dung cho lời nói, câu. Nó tập hợp một số nét nghĩa và được lĩnh hội bằng hình thức cảm tính. Còn ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho nhiều từ, nhiều đơn vị ngữ pháp, là tổ chức lời nói, tổ chức câu, thiết lập liên kết giữa các từ để tạo câu. Khác với ý nghĩa từ vựng, ý nghĩa ngữ pháp chỉ có một nét nghĩa và nó được bộc lộ bằng những hình thức chung [55]. Cơ sở ngữ dụng học Ngữ dụng học là một chuyên ngành thuộc ngôn ngữ học và tín hiệu học nghiên cứu về sự đóng góp của bối cảnh tới nghĩa. Ngữ dụng học bao hàm cả lý thuyết hành vi ngôn từ, hàm ngôn hội thoại, tương tác lời nói và cả những cách tiếp cận khác tới hành vi ngôn ngữ trong triết học, xã hội học và nhân học [35]. Tuy nhiên trong phạm vi của bài khóa luận, chúng tôi chỉ quan tâm tìm hiểu ngữ cảnh ảnh hưởng đến sự thay đổi của ý nghĩa ngôn ngữ. Ngữ cảnh là bối cảnh ngôn ngữ mà ở đó sản phẩm ngôn ngữ văn bản được tạo ra trong hoạt động giao tiếp, đồng thời là bối cảnh cần dựa vào để 7 lĩnh hội thấu đáo sản phẩm ngôn ngữ đó. Trong mỗi ngữ cảnh khác nhau, nghĩa của từ ngữ cũng có sự thay đổi theo ngữ cảnh của phát ngôn. Trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ nhân tạo Khái quát về trí tuệ nhân tạo Trí tuệ nhân tạo là một thuật ngữ đã xuất hiện từ lâu trên thế giới , từ năm 1956. Trên thế giới đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về thuật ngữ trí tuệ nhân tạo. Trong cuốn sách nổi tiếng “Trí tuệ nhân tạo Hướng tiếp cận mới nhất” Artificial Intelligence tái bản lần 3 của hai tác giả Stuart Russel và Peter Norving có tổng hợp một số định nghĩa khác nhau về trí tuệ nhân tạo như sau 1 Trí tuệ nhân tạo là nỗ lực thú vị nhằm khiến suy nghĩ của máy tính có thêm nhận thức, tư duy. 2 Trí tuệ nhân tạo là những hành động của máy móc gắn liền với tư duy của con người, ví dụ như ra quyết định hay giải quyết vấn đề. 3 Trí tuệ nhân tạo là nghiên cứu về năng lực trí tuệ vận hành vào các mô hình tính toán. 4 Trí tuệ nhân tạo là nghiên cứu để máy tính có khả năng nhận thức, nhận định và hành động. 5 Trí tuệ nhân tạo là nghệ thuật tạo ra các cỗ máy có thể thực hiện những chức năng yêu cầu trí tuệ khi thực hiện bởi con người. 6 Trí tuệ nhân tạo là nghiên cứu cách khiến máy tính làm được điều mà ở thời điểm hiện tại con người vẫn đang làm tốt hơn [24]. Theo Haugeland 1985, Trí tuệ nhân tạo giúp tạo ra máy tính có khả năng suy nghĩ … máy tính có trí tuệ theo đầy đủ nghĩa của từ này. Còn theo Rick and Knight năm 1991 trí tuệ nhân tạo là khoa học nghiên cứu xem làm thế nào để máy tính có thể thực hiện được những công việc mà hiện con người làm tốt hơn máy tính. Winston 1992, trí tuệ nhân tạo là việc nghiên cứu các mô hình tính toán để máy tính có thể nhận thức, lập luận, và hành động. Còn Nilsson 1998 trí tuệ nhân tạo nghiên cứu các hành vi thông minh mô phỏng trong các vật thể nhân tạo. Theo Wikipedia, Trí tuệ nhân tạo hay trí thông minh nhân tạo artificial lintelligence hay machine intelligence, thường được viết tắt là AI là trí tuệ 8 được biểu diễn bởi bất cứ một hệ thống nhân tạo nào. Thuật ngữ này thường dùng để nói đến các máy tính có mục đích không nhất định và ngành khoa học nghiên cứu về các lý thuyết và ứng dụng của trí tuệ nhân tạo [47]. Trí tuệ nhân tạo là trí tuệ do con người lập trình tạo nên với mục tiêu giúp máy tính có thể tự động hóa các hành vi thông minh như con người. Trí tuệ nhân tạo khác với việc lập trình logic trong các ngôn ngữ lập trình ở việc ứng dụng các hệ thống học máy machine learning để mô phỏng trí tuệ của con người trong cách xử lý mà con người làm tốt hơn máy tính [48]. Tức là mỗi loại trí tuệ nhân tạo hiện nay đang dừng lại ở mức độ những máy tính hoặc siêu máy tính dùng để xử lý một loại công việc nào đó như điều khiển một ngôi nhà , nghiên cứu nhận diện hình ảnh, xử lý dữ liệu của bệnh nhân để đưa ra phác đồ điều trị, khả năng trả lời các câu hỏi về chẩn đoán bệnh, xử lý dữ liệu để tự học hỏi, trả lời khách hàng về các sản phẩm của một công ty [51]... Hay nói một cách khác dễ hiểu hơn, trí tuệ nhân tạo là trí tuệ của máy móc được tạo ra bởi con người. Trí tuệ này có thể tư duy, suy nghĩ, học hỏi,... như trí tuệ con người. Xử lý dữ liệu ở mức rộng lớn hơn, quy mô hơn, hệ thống, khoa học và nhanh hơn so với con người. Ngôn ngữ nhân tạo Ngôn ngữ nhân tạo là một hệ thống ngôn ngữ do một người hoặc một nhóm người sáng lập ra và nó khác với ngôn ngữ tự nhiện. Theo Wikipedia, ngôn ngữ nhân tạo hay còn được gọi là ngôn ngữ xây dựng, là loại ngôn ngữ mà hệ thống âm vị, ngữ pháp, và từ vựng do một người hoặc một nhóm người thiết kế ra. Khác với các ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ nhân tạo không có quá trình phát triển tự nhiên [34]. Trên thế giới có rất nhiều loại ngôn ngữ nhân tạo, chúng được sáng lập ra với các mục đích khác nhau. Theo “từ điển bách khoa Việt Nam”, ngôn ngữ nhân tạo được chia thành ba loại với ba mục đích sử dụng khác nhau. Loại thứ nhất được sử dụng với mục đích cho giao tiếp thường nhật Volapük, do Johann Martin Schleyer người Đức tạo ra năm 1879; Espéranto, do L. Zamenhof người Ba Lan tạo ra năm 1887; Interlingua do Hiệp hội Ngôn ngữ Phụ trợ Quốc tế [sic] IALA tạo ra trong những năm 1937-1951; tiếng Anh cơ sở Basic English, do Charles Kay Ogden tạo năm 1930. Loại thứ hai 9 được sử dụng với mục đích xử lý tự động thông tin nhờ máy tính ngôn ngữ máy. Còn loại thứ ba được sử dụng với mục đích ghi chép và lưu trữ thông tin các chuyên ngành khoa học và kĩ thuật ngôn ngữ thông tin [34]. Tiểu kết chƣơng 1 Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày một số lý thuyết cơ bản về ngôn ngữ có ảnh hưởng đến trí tuệ nhân tạo như lịch sử hình thành và phát triển của trí tệ nhân tạo, một số lý thuyết về trí tuệ nhân tạo và ngôn ngữ nhân tạo, và một số lý thuyết về ngôn ngữ tiếng Việt. Ở phạm vi phần 1, chúng tôi đã đưa ra một số cách hiểu khác nhau về trí tuệ nhân tạo. Điều này, đã góp phần cũng cấp cho quý độc giả một số cách hiểu về trí tuệ nhân tạo, từ đó có thể nắm được bản chất và đặc điểm của trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh đó, tôi còn cung cấp một số thông tin về ngôn ngữ nhân tạo. Ngôn ngữ nhân tạo là loại ngôn ngữ do con người tạo ra. Nó khác hẳn với ngôn ngữ tự nhiên mà con người sử dụng hằng ngày. Từ đó, tạo tiền đề cho vấn đề cần nghiên cứu Liệu trí tuệ nhân tạo có sử dụng được thứ ngôn ngữ tự nhiên của con người? 10 CHƢƠNG 2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ RÀO CẢN ĐỐI VỚI TRÍ TUỆ NHÂN TẠO TRONG VIỆC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ Những thuận lợi của trí tuệ nhân tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ Thuận lợi về mặt cấu tạo Khi xét đến thuận lợi của trí tuệ nhân tạo, ta không thể không xét đến những ưu điểm vượt trội của trí tuệ nhân tạo. Thứ nhất, vì là mấy móc được tạo ra bởi con người nên chúng có thể suy nghĩ, làm việc một cách không mệt mỏi, thậm chí chúng tư duy nhanh hơn con người gấp hàng trăm hàng nghìn lần, và có thể đưa ra hàng triệu kết quả khác nhau trong một khoảng thời gian ngắn. Thứ hai, khả năng học hỏi của chúng cũng thật đáng khâm phục. Chỉ cần người ta cài đặt vào nó bất kì một cuốn sách hay thông tin gì dù theo thứ tự hay không theo thứ tự nhưng trí tuệ nhân tạo có thể dung nạp được tất cả và phục vụ lại cho con người mỗi khi họ cần. Thuận lợi trong lĩnh vực ngôn ngữ Thuận lợi về mặt ngữ âm Xét về mặt ngữ âm, trí tuệ nhân tạo dễ dàng nhận biết được vỏ âm thanh của ngôn ngữ. Khác với con người, trí tuệ nhân tạo không cần phải học hỏi từng âm từng chữ như con người mà chúng được dung nạp vào một hệ thống vốn từ phong phú để chúng có thể dễ dàng nhận biết được ngôn ngữ con người phát âm ra. Ví dụ, trong cuộc trò chuyện giữa Sophia - một nữ robot được tích hợp camera và các thuật toán thông minh cho phép cô có thể giao tiếp với con người bằng cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, với Steve Kovach - một phóng viên, cô đã phát ngôn “Tôi yêu con người. Tôi muốn là hiện thân của tất cả những điều gì tốt đẹp nhất của con người”. Xét phát ngôn, ta thấy trí tuệ nhân tạo có thể biết phát ngôn gồm hai câu nói, câu thứ nhất gồm có 4 âm tiết và câu thứ hai gồm có 17 âm tiết. Trong phát ngôn trên có 15 từ trong đó có 13 từ đơn lần lượt là “tôi, yêu, muốn, là, của, tất, cả, những, điều, gì, tốt, đẹp, nhất” và hai từ ghép 11 là “con người, hiện thân”. Như vậy, ta thấy trí tuệ nhân tạo có thể dễ dàng nhận biết được mặt âm thanh của ngôn ngữ, thậm chí, chúng có thể đáp trả lại câu hỏi của con người dựa vào vốn từ nhất định mà chúng đã được học. Thuận lợi về mặt ngữ nghĩa Trong lĩnh vực ngôn ngữ, trí tuệ nhân tạo có thể dễ dàng nhận biết được những câu nói mang ý nghĩa tường minh. Nghĩa tường minh hay còn được gọi là hiển ngôn là nghĩa trực tiếp do các yếu tố ngôn ngữ mang lại. Các yếu tố ngôn ngữ có thể về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa, hay từ vựng… Đây là một loại nghĩa được hiển thị trên bề mặt câu chữ, nó giúp cho người đọc hiểu và nắm bắt được ý nghĩa nhanh chóng mà không cần đến tư duy. Chính vì vậy, trí tuệ nhân tạo có thể dễ dàng nhận biết được ý nghĩa tường minh khi nghe người khác nói. Thậm chí, trí tuệ nhân tạo có thể bắt chước vả sử dụng những câu nói mang ý nghĩa tường minh này để giao tiếp với con người và giao tiếp với nhau. Điều này được chứng minh qua các ví dụ sau Ví dụ thứ nhất, một câu nói của mẹ chị Ni trong cuốn “Con chó nhỏ mang giỏ hoa hồng” của Nguyễn Nhật Ánh “Người ta chỉ gắn camera để phòng trộm thôi, chẳng ai gắn camera để xem vợ mình có uống cà phê của mình hay không [1].” Qua phát ngôn trên, xét về mặt ngữ âm trí tuệ nhân tạo có thể nghe rõ từng âm thanh của cả câu mà không bị nhầm lẫn hay lẫn lộn các âm thanh trong một câu. Âm tiết là một cấu trúc cơ bản của một câu nói về mặt phát âm. Âm tiết là một khái niệm thuộc ngữ âm học phương tây để chỉ một đơn vị lời nói được phát ra. Trước kia, chúng ta chỉ gọi đơn vị này là một tiếng. Trí tuệ nhân tạo có thể nhận biết được trong phát ngôn trên có bao nhiêu âm tiết. Cụ thể trong phát ngôn “Người ta chỉ gắn camera để phòng trộm thôi, chẳng ai gắn camera để xem vợ mình có uống cà phê của mình hay không.” có 29 âm tiết tương đương với 29 tiếng. Ví dụ thứ hai, trong một tiết dạy về ngôn ngữ, giáo viên lấy ví dụ về câu đối “Da trắng vỗ bì bạch/ Rừng sâu mưa lâm thâm”. Như chúng ta đã biết, trí tuệ nhân tạo có thể tiếp thu tri thức nhân loại rất nhanh chóng. Chỉ với vài phút lập trình, chúng có thể dung nạp đến hàng trăm hàng nghìn các khái niện khác nhau, các thuật ngữ, nội dung lịch sử - văn hóa - văn học…. Vì vậy 12 khi nghe câu đối trên thì trí tuệ nhân tạo đã nhận biết được đây là một câu đối chứ không phải một câu thơ hay một câu văn và chúng có thể nhận biết được các đặc điểm từ vựng riêng biệt của câu đối trên. Từ vựng được hiểu là tập hợp tất cả các từ và đơn vị tương đương với từ trong ngôn ngữ. Xét về mặt từ loại thì câu đối “Da trắng vỗ bì bạch/ Rừng sâu mưa lâm thâm” bao gồm có 8 từ trong đó có 6 từ đơn da, trắng, vỗ, rừng, sâu, mưa và có 2 từ ghép bì bạch, lâm thâm. Về mặt hình thức của câu đối thì “da trắng” đối với “rừng sâu”; “vỗ” đối với “mưa” và “bì bạch” đối với “lâm thâm”. Cái hay của câu đối trên còn thể hiện ở việc bên cạnh việc đối giữa hai câu thì trong nội bộ câu cũng đối với nhau. Ví dụ trong câu “da trắng vỗ bì bạch” thì “bì” có nghĩa là da, từ “bạch” có nghĩa là trắng. Như vậy trong câu còn có hiện tượng đối trong nội bộ một câu “da trắng” - “bì bạch”. Tương tự như vậy, trong câu “rừng sâu mưa lâm thâm” thì “rừng sâu” - “lâm thâm”. Ví dụ thứ ba, một câu nói được trích trong văn bản “Lão Hạc” của nhà văn Nam Cao “Vợ ông Giáo là một người như vậy. Chị không ác với ai nhưng mà chị quá khổ, mà người ta khổ quá thì còn nghĩ gì đến ai được nữa”[2]. Xét về mặt ý nghĩa, phát ngôn này có nghĩa tường minh là 1, Vợ ông Giáo là một người rất khổ. 2, Vợ ông Giáo không ác. 3, Vì khổ nên chị không thể nghĩ đến nọi người xung quanh. 4, Nhân vật được nói đến là vợ ông Giáo Như vậy, qua các ví dụ trên, ta thấy trí tuệ nhân tạo có thể dễ dàng nhận biết được ý nghĩa tường minh xuất hiện ở trong các phát ngôn trên cả 3 bình diện từ vựng, ngữ âm, ngữ nghĩa. Những rào cản đối với trí tuệ nhân tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ Những rào cản về mặt ngữ âm Hiện tượng đồng âm Từ đồng âm trong tiếng Việt là những từ phát âm giống nhau hay cấu tạo âm thanh giống nhau, nhưng nghĩa hoàn toàn khác nhau. Từ đồng âm xuất hiện nhiều trong tiếng Hán, tiếng Việt. Từ đồng âm rất dễ bị nhầm với từ 13 nhiều nghĩa vì từ nhiều nghĩa cũng là từ có các nghĩa khác nhau mặc dù là gần giống nhau [55]. Như vậy, liệu trí tuệ nhân tạo có thể phân biệt được các từ đồnng âm trong tiếng Việt? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu một số ví dụ. Ví dụ thứ nhất, xét trong phát ngôn “Ruồi đậu mâm xôi đậu”. Trong phát ngôn trên xuất hiện hai từ “đậu” trong cùng một phát ngôn, nhưng ý nghĩa của chúng lại hoàn toàn khác nhau. Từ “đậu” thứ nhất là động từ, chỉ hoạt động của những con vật biết bay khi chúng hạ cánh và nó trả lời cho các câu hỏi “Ai đậu?” và “Đậu vào cái gì?”. Từ “đậu” đã góp phần bổ sung ý nghĩa cho danh từ “ruồi”. Từ “đậu” thứ hai là danh từ, chỉ một loại thực vật, cây nhỏ, có nhiều loại, tràng hoa gồm năm cánh hình bướm, quả dài, chứa một dãy hạt, quả hay hạt được dùng để làm thức ăn. Khi kết hợp với từ “xôi” tạo thành một danh từ mới chỉ tên của một loại xôi để phân biệt với các loại xôi khác như xôi ngô, xôi gấc, xôi nếp… Như vậy, ta thấy mặc dù phát âm giống nhau nhưng nghĩa của hai từ lại hoàn toàn khác nhau. Người ta gọi đây là hiện tượng từ đồng âm trong tiếng Việt. Ví dụ thứ hai, xét phát ngôn “Hôm nay nhà tôi đi vắng, tôi mời bác ở lại nhà chơi rồi cùng tôi xem phim nhà Trần”. Trong ví dụ trên xuất hiện ba từ nhà “nhà tôi”, “nhà”, “nhà Trần”. Liệu nghĩa của ba từ trên có giống nhau hay không? Từ nhà thứ nhất “nhà tôi” có nghĩa chỉ người vợ hoặc chồng. Từ “nhà” thứ hai chỉ một công trình kiến trúc, có mái, có tường, cửa và được dùng để ở. Từ “nhà” thứ ba dùng để chỉ một triều đại phong kiến có trong lịch sử. Ví dụ thứ ba, khi đang nấu chè nhưng nhà lại hết đường, bà mẹ sai đứa con gái “Lan đi ra đường mua cho mẹ cân đường về đây”. Xét phát ngôn trên, ta thấy phát ngôn có hai từ “đường” tuy nhiên nghĩa của chúng lại có sự khác biệt. Từ “đường” thứ nhất là danh từ có nghĩa lối đi nhất định được tạo ra để nối liền hai địa điểm, hai nơi như con đường hay đường đến trường. “Đường” thứ hai cũng là một danh từ nhưng nó không có ý nghĩa chỉ địa điểm mà là chất kết tinh có vị ngọt, được chế từ mía hoặc củ cải đường. Chỉ với một từ nhưng ý nghĩa của chúng lại hoàn toàn khác nhau. 14

luận văn trí tuệ nhân tạo